Vay ngân hàng để mua nhà: trả nợ hằng tháng ra sao?

Đọc khoảng 7 phút

Bài này dùng ví dụ minh họa để trả lời câu hỏi mình nghe nhiều nhất về khoản vay mua nhà: "Mỗi tháng sẽ phải trả bao nhiêu, và sau này có đổi không?". Với nhiều gia đình, đây là khoản nợ lớn nhất và dài nhất trong đời, việc nhìn vào những con số sẽ giúp chúng ta có hình dung rõ ràng và cụ thể hơn.

Tóm tắt bài viết
  1. Mỗi tháng trả ngân hàng gồm tiền gốc và tiền lãi; với cách tính dư nợ giảm dần, số tiền phải trả nhẹ đi theo năm tháng.
  2. Vay dài hơn thì tháng nào cũng nhẹ hơn, nhưng tổng tiền lãi cũng nhiều hơn.
  3. Lãi suất sau thời gian ưu đãi có thể thay đổi, nên gia đình nên thử tính với mức lãi cao hơn.
  4. Gia đình có thể chuẩn bị trước cho tháng trả nợ đầu tiên bằng vài việc nhỏ, từ ngày trả nợ đến các khoản phí đi kèm.

Mỗi tháng người vay cần trả những gì?

Số tiền gia đình chuyển cho ngân hàng mỗi tháng có hai phần. Phần tiền gốc làm khoản nợ giảm đi, còn phần tiền lãi là cái giá của việc dùng tiền ngân hàng.

Với cách tính dư nợ giảm dần:

Vì nợ còn lại giảm dần nên tiền lãi, và cả khoản phải trả, cũng nhẹ đi theo thời gian.

Ví dụ minh họa: vay 1,2 tỷ đồng trong 20 năm (240 tháng), lãi suất lấy tạm 9%/năm, tiền gốc 5 triệu mỗi tháng.

Thời điểmTiền gốcTiền lãiTổng trả
Tháng đầu tiên5 triệu9 triệu14 triệu
Sau 5 năm (tháng 61)5 triệukhoảng 6,75 triệukhoảng 11,75 triệu
Sau 10 năm (tháng 121)5 triệukhoảng 4,5 triệukhoảng 9,5 triệu
Sau 15 năm (tháng 181)5 triệukhoảng 2,25 triệukhoảng 7,25 triệu

Điều này có nghĩa là những năm đầu là giai đoạn gia đình cần chắc tay nhất. Nếu vượt qua được vài năm đầu, gánh nặng hằng tháng sẽ nhẹ dần, trong khi thu nhập của nhiều gia đình cũng tăng theo thời gian. Cách tính này khác với cách trả góp đều mỗi tháng một số tiền như nhau; sự khác biệt giữa hai cách được nói ở bài Đọc hợp đồng vay.

Vay 10, 15 hay 20 năm?

Thời gian vay càng dài thì mỗi tháng càng nhẹ, nhưng gia đình trả lãi trong nhiều năm hơn. Cũng với khoản vay 1,2 tỷ và lãi tạm 9%/năm (ví dụ minh họa):

Thời gian vayTrả tháng đầuTổng tiền lãi
10 năm19 triệukhoảng 0,54 tỷ
15 nămkhoảng 15,7 triệukhoảng 0,81 tỷ
20 năm14 triệukhoảng 1,08 tỷ

Vay ngắn hay vay dài đều có lý, và mình nghĩ không có đáp án chung: chúng ta chỉ cần biết cả hai mặt khi chọn. Từ 10 lên 15 năm, tháng đầu nhẹ đi khoảng 3,3 triệu nhưng tổng lãi tăng khoảng 270 triệu; có gia đình cần thở nhẹ hơn mỗi tháng, có gia đình muốn sớm hết nợ. Một hướng mà gia đình có thể thử là chọn thời gian vay vừa với khả năng trả hiện tại, rồi trả thêm khi có tiền dư (xem bài Lập kế hoạch trả nợ).

Khi lãi suất đổi, tháng trả cũng đổi

Gia đình nên thử tính khoản trả nợ ở cả mức lãi suất cao hơn, rồi xem nhà mình có chịu được không, vì lãi suất sau thời gian ưu đãi có thể thay đổi. Ví dụ trên giữ lãi 9% suốt 20 năm cho dễ tính, còn thực tế nhiều khoản vay có thời gian ưu đãi rồi chuyển sang lãi thả nổi, và mức lãi sau ưu đãi có thể cao hơn khá nhiều (số liệu và cách đọc điều khoản nằm ở bài Đọc hợp đồng vay). Một cách nhớ đơn giản: với khoản vay còn nguyên 1,2 tỷ, mỗi 1%/năm lãi tăng thêm làm tiền lãi mỗi tháng tăng khoảng 1 triệu.

Chuẩn bị cho tháng trả nợ đầu tiên

Mẹo nhỏ: bạn có thể nhờ ngân hàng gửi bảng lịch trả nợ dự kiến cho cả quá trình vay. Bảng này cho thấy rõ từng tháng gồm bao nhiêu gốc, bao nhiêu lãi; đặt cạnh sổ chi tiêu, cả nhà sẽ hình dung được những năm đầu nặng nhất ở mức nào.

Bài viết này là chia sẻ kinh nghiệm, không phải tư vấn tài chính chuyên nghiệp. Mọi con số trong bài đều là ví dụ minh họa, tính theo cách trả gốc đều và lãi suất giữ nguyên; điều khoản thực tế khác nhau giữa các ngân hàng và từng hợp đồng. Bạn có thể dùng công cụ tính lãi vay để thử với số liệu của nhà mình.

Khoản vay mua nhà dài thật, nhưng mỗi tháng trôi qua là thêm một phần căn nhà thuộc về gia đình. Chúng ta cứ đi từng tháng một, và mình tin cả nhà sẽ về đích.